
Ta tới đây muốn yên ổn kiếm tìm vàng bạc và nô lệ. Sao các ngươi lại đối xử như thể ta là kẻ xâm lược. Xem chừng không phải ta, mà chính các ngươi mới là kẻ xâm lược.
Mời đọc bài báo ý vị, rồi xem băng ghi âm hình hòa trộn để vinh danh những cuộc gặp gỡ mang tính ngoại giao với các dạng sinh thể lạ.
Phân loại: Đạo đức, Định kiến, Động cơ, Film, Khái niệm cái tôi, Ô, Tâm lý học Tiến hóa

Sử dụng biện pháp trừng trị, phạt vạ sẽ đưa tới sự hợp tác chặt chẽ hơn trong các tình huống liên nhân cách?
Bằng thực nghiệm, các nhà nghiên cứu Đại học Harvard khẳng định câu trả lời là Không.
Dùng một phiên bản mô phỏng trò Nghịch lý Tù Nhân (Prisoner's Dilemma)-- một phạm thức (paradigm) cổ điển trong nghiên cứu sự hợp tác-- họ phát hiện ra rằng hành vi trừng phạt nhằm ép buộc người khác hợp tác rốt cục là nguyên nhân làm hành vi hợp tác kém đi, khiến cho bản kết toán của cá nhân về đối tượng giảm thiểu, và chẳng hề hỗ trợ bất cứ lợi lạc nào cho nhóm chung.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy những người chơi xếp ở vị trí hàng đầu không có thói quen trừng phạt, thay vào đấy, họ tận dụng chiến lược ăn miếng trả miếng; trong khi đó, những người chơi chiếm thứ hạng thấp nhất lại tốn nhiều tiền cho việc trừng phạt.
Theo các tác giả, trừng phạt có thể tạo ra vòng xoáy trả thù với những hậu quả tiêu cực cho bất cứ ai tham dự.
Vấn đề đáng quan tâm là tại sao lại tồn tại một động cơ hừng hực khiến con người ta muốn trừng phạt khi cùng tha nhân cạnh tranh.
Nghiên cứu trên lý giải, các hành vi trừng phạt phục vụ cho việc thiết lập một hệ thống thang bậc mang tính thống trị hoặc cốt che chắn có lợi cho chủ sở hữu.
Liên quan tới chủ đề này, triết gia John Stuart Mill cung cấp lý thuyết về sự phát triển của các nhân cách kiếm tìm quyền lực:
Một tâm trí năng động và mạnh mẽ, nếu chối bỏ tự do, thì sẽ kiếm tìm quyền lực: phủ nhận mệnh lệnh tự thân sẵn có, nó khẳng định nhân cách của chính mình bằng nỗ lực không ngừng kiểm soát những kẻ khác.Mill, chẳng hạn, như vợ ông, còn đi xa hơn:
Cho phép mình chẳng cần thiết giữ gìn bản sắc riêng mà cứ thích dựa vào kẻ khác là đẩy cao lên cái giá phải trả của việc khuất phục, nương theo mục đích của người.Điều này chuyển tâm trí ta sang một lý thuyết khác về kiếm tìm quyền lực, chẳng hạn của Adler như ở đây:
Ở đâu tự do không còn gì để hy vọng và nhường lối cho quyền lực, ở đó quyền lực trở thành đối tượng ham muốn lớn lao của con người; những kẻ bỏ mặc, không chút đoái hoài hay cảm thấy bị phiền nhiễu bởi chuyện quản lý đời mình sẽ bù trừ, làm đối trọng bản thân-- nếu họ muốn-- thông qua sự can thiệp, chen mục đích riêng vào công việc của kẻ khác.
Con người ta gắng sức hướng tới quyền lực để nhằm vượt qua và bù trừ cho những cảm giác không tránh khỏi từ thời thơ ấu về phức cảm tự ti, sự bất lực, và phụ thuộc vào những người lớn.Blog Cái tôi sẽ trở lại chủ đề Quyền lực trong một dịp khác.
Dẫu thế nào đi nữa, kết luận khái quát từ nghiên cứu của Đại học Harvard thật rõ ràng: việc trừng phạt với đầu tư đắt đỏ đã không giúp cải thiện được hành vi hợp tác, và những ai sẵn sàng sử dụng nó thường gây nên tổn thất nặng nề; nói cách khác, trừng trị và tắc tị!
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Đạo đức, Động cơ, Giới tính, Khái niệm cái tôi, Quan hệ, Rối loạn nhân cách, Tâm lý học Xã hội
Hầu hết mọi người đều sẵn lòng dùng đời mình để đạt tới những mục tiêu vừa phải, phù hợp với thực tế.18 cuộc hành trình điên rồ nhất trong thời gian gần đây
Họ nhắm đến vị trí hàng đầu trong công việc kinh doanh, hay thể hiện thật hoàn hảo tại phòng tập môn thể thao họ lựa chọn.
Một số người mong muốn hơn thế nữa.
Các đối tượng này không chỉ chạy marathon mà còn là những tay marathon siêu tuyệt-- không thỏa mãn với chuyện đi bộ hàng ngày, thực chất họ còn đi bộ vòng quanh thế giới.
Động cơ của họ là gì?
Có thể, sự thôi thúc nội tâm khiến họ khao khát hình ảnh người số một trong mọi thứ họ làm. Hoặc đơn giản họ vốn khùng.
(The Savages, 2007)
Bộ film hay, The Savages; về gia đình nhà Savage, và về những con người hoang dã (nghĩa đen của từ "savage"), khắc khoải sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ vượt ngoài sự kiểm soát của bản thân khiến họ ngày này qua tháng khác, dính chùm với nhau để rồi muốn tự làm hại chính đời mình.
Sự cố ông bố già bị mất trí nhớ (dementia) buộc hai anh em nhà Savage phải tạm dừng nhịp điệu riêng tư quen thuộc, đồng thời lại tạo điều kiện cho họ có đủ thời gian và tâm thế lắng nghe những thầm thì khác chẳng hề xa lạ.
Xem bản film đẹp, diễn viên thể hiện sắc sảo mối liên hệ thân- tâm, cảnh quay tiết chế hợp lý vừa buồn cười vừa muốn khóc, nhạc nền cùng các ca từ lọt ra như ở chốn lặng yên không người, khán giả càng nhận ra khoảng cách giữa thái độ và hành vi: lý giải tại sao chúng ta nói một đằng, lại làm một nẻo-- ngay cả với những ý định tốt đẹp nhất.
Theo nghiên cứu xa xưa của La Piere (1934), tất cả phụ thuộc vào cách người ta đặt vấn đề và những mẫu rập khuôn đang tưởng nghĩ tới khi đưa ra câu trả lời.
Có thể nói, ở một số phương thức nhất định, thái độ ứng xử thì tựa như cú bắt chụp của chiếc máy ảnh- định kiến tương ứng với ký ức dội lên tại thời điểm họ bị hỏi han.
Các nhân vật trong film, dù xuất hiện đều đặn xuyên suốt hay chỉ nghe nhắc tới (bà mẹ, và vợ người tình của cô em gái), là thành viên chính thức của nhà Savage (3 bố con) hay chỉ liên hệ khoan nhặt (người tình theo chủ nghĩa nữ quyền của người anh trai) tất tật họ đều qua tuổi hoa niên từ lâu.
Một đặc điểm chung khác là họ luôn cố tỏ ra cực kỳ tự tin và mạnh mẽ, nỗ lực gồng sức bảo vệ cái tôi; hậu quả, cơ thể phải gánh chịu.
Bi kịch thay, đối tượng hay bộc lộ lòng tự trọng mong manh dễ vỡ này thường cảm thấy lắm mối cứ chực đe dọa đâu đây.
Nếu xem film, bạn sẽ hiểu ít nhiều nguyên do hai anh em nhà Savage ăn vô tư, không hề bỏ bữa; ví dụ, cảnh hai người nhấm nháp bánh pizza (?) trong lúc anh trai phải chườm nước đá và dùng băng cố định để giữ đầu sau vụ bị trật vai, còn cô em thì mới nhận được thư tín.
Quả thật, xem chừng 'người tự tin cao nghĩ rằng, họ có thể ăn một cách lành mạnh bất kể chuyện gì xảy đến hay trong tình huống nào-- buồn chán, cuống cuồng, mệt mỏi, lúc đi nghỉ dưỡng hay khi ở bàn tiệc',...
Phát hiện vừa nêu góp phần chứng thực hiện tượng thừa cân hoặc béo phì, đặc biệt ở phụ nữ lớn tuổi: liên quan tới sự tự tin thấp.
Mất trí nhớ tuổi già (dementia) gồm một tập hợp không rõ ràng những khiếm khuyết trong diễn tiến của hệ thần kinh, nó có thể biểu hiện là chính tình trạng mất trí nhớ hoặc có thể là bằng chứng của một bệnh lý rộng hơn như Alzheimer hoặc Parkinson.
Điều đáng buồn, mặc dù mỗi năm có hàng ngàn toa thuốc liên quan đến căn bệnh mất trí nhớ, song nghiên cứu gần đây cho thấy không có loại nào khẳng định đặc hiệu trong điều trị.
Bộ fim The Savages kết thúc trong cảnh chạy bộ như một hình thức tập thể dục hướng tới niềm vui sống.
Vì còn có ngày mai, nên xem xong film rồi tôi liền tự nhủ mình phải chú tâm hơn nữa vào huyệt Lao cung.
Phân loại: Định kiến, Động cơ, Film, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Mẫu rập khuôn, Não-Thần kinh, Phụ nữ, Quan hệ, Sự tiên đoán tự thực hiện, Thuốc men
Ông gác nỗi đau, lao mình vào công việc, phụng sự cách mạng và nhân dân, nhưng đối diện với chính mình, trái tim quả cảm, nhân hậu của ông như đã quá mệt mỏi với bao nỗi niềm ưu tư chồng chất bấy lâu.Và nó đã đột ngột ngừng đập năm 1969, khi ông tròn 70 tuổi.
Đọc bài viết về sử gia Trần Huy Liệu, lại nhớ câu chuyện hoang đường Lê Văn Tám.
Phân loại: Đạo đức, Động cơ, Học vấn, Ô, Tác giả và tác phẩm, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Giáo dục, Truyền thông
(nguồn)
Một câu chuyện ấn tượng và thú vị về tình yêu của loài bạch tuộc [tham khảo, vidéo].
Nghiên cứu của Christine Huffard- tốt nghiệp trường đại học Berkeley (Hoa Kỳ)- trên Abdopus aculeatus-- một loài bạch tuộc sống ở vùng biển Indonesia-- chỉ ra rằng các sinh thể này cũng tựa con người, chí ít do đủ thứ biểu hiện "hỉ, nộ, ái, ố..." vào giữa ban ngày ban mặt.
Chàng bạch tuộc quyết tâm gìn giữ cô nàng thương mến đến cùng, thậm chí, cần thiết thì bóp chết bất cứ kẻ tình địch nào mon men đến gần đối tượng dấu yêu.
Song, liệu đấng trượng phu có ngăn cản nổi cơn hứng chí cuồng phong rình rập? Xem chừng thực lòng là không thể, bởi các đối thủ đực rựa bé nhỏ hơn cứ luôn thử lén lút ve vãn bằng cách đóng giả con cái.
Ghen tuông, dối trá, mưu mô ma mãnh, uốn éo tập tính, lạnh lùng giết chóc,... nào ai ngờ thế giới dưới đáy vực sâu thăm thẳm ấy lại diễn ra một vở bi kịch tình trường tàn khốc, đẫm lệ (sic!).
Wow, tôi dành chút thời gian kể về loài bạch tuộc, vì trong cuốn sách đang dự tính đọc lại tuyền sử dụng hình ảnh chúng để minh họa ý tưởng.
Phân loại: Đọc sách, Động cơ, Hài hước, Quan hệ, Tâm lý học Tiến hóa
Đã đến lúc cần phải nói nhanh một lời về ảnh hưởng của kỹ nghệ khiêu dâm lên, xuống kích cỡ dương vật
Quá nhiều chia sẻ kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, trao đổi chuyên môn, tâm sự nỗi niềm xuất hiện hết sức chi tiết, cụ thể trên vô số hệ thống truyền thông đại chúng-- chủ yếu tập trung đề cập đến mọi mặt đời sống tình dục và thực trạng hôn nhân- gia đình Việt Nam.
[Cho phép tôi miễn tạo các đường dẫn minh họa ý trên.]
Và dường như không ai bảo ai, đa phần nội dung bàn bạc, phân tích, lục lọi nguyên do rốt cục, đều xem chừng dễ dàng đồng ý quy cho mầm mống gieo rắc tệ nạn, gây hiểm họa khôn lường: kỹ nghệ khiêu dâm (porn), cùng kẻ đồng lõa phát tán cực kỳ khủng khiếp: mạng lưới điểm toàn cầu (internet).
Kỹ nghệ khiêu dâm không phải là vấn đề.
Tôi chưa từng tán thành và chẳng bao giờ muốn nói rằng, kỹ nghệ khiêu dâm là ân huệ to lớn, dịp may hiếm có giúp chúng ta được cởi trói, rồi thực hành cởi mở sau bao nhiêu năm tháng, giai đoạn chịu đựng, khổ sở đủ điều vì ẩn ức, dồn nén.
Song thẳng thắn thực lòng, tuyệt đừng hồ đồ kết tội kỹ nghệ khiêu dâm bởi cảnh đổ vỡ các mối quan hệ xã hội; áp lực ghê gớm của chị em phụ nữ, nhằm duy trì những tiêu chuẩn bất khả về ngoại hình cũng như cách thể hiện ở đời; và sự lơ là, thiếu nhiệt huyết, mất hứng thú trong tiến trình ứng xử tình dục bình thường của cánh đàn ông.
Chắc chắn, kỹ nghệ khiêu dâm gây sức ép với nữ giới. Tuy thế, tác động này không xuất phát một cách trực tiếp từ kỹ nghệ khiêu dâm, hoặc thậm chí, từ phía nam giới.
Xem ra, phụ nữ không những bị *ép buộc* vào tâm thế khó xử, chính xác hơn-- có lẽ-- phải diễn đạt: phụ nữ *muốn* sống tâm thế khó xử.
Tại sao phụ nữ lại muốn như vậy là câu chuyện dấp dính văn hóa; chí ít ở đây, quyết không phải vì đàn ông ra lệnh phụ nữ phải dứt khoát làm thế.
Chắc chắn, đàn ông ưa thích kỹ nghệ khiêu dâm. Phụ nữ muốn sống tâm thế khó xử-- nhất trí thôi; song, tại sao đàn ông cũng muốn bản thân mình tương tự thế nhỉ?
Đồ chừng là, đối tượng sử dụng thường xuyên kỹ nghệ khiêu dâm (bất kể mức độ sát hợp của nó đúng đến như thế nào) dễ gặp phải một số trục trặc để phấn khích cường dương trong các tình huống bình thường hoặc quen tiến hành.
Vẫn còn lý do lớn hơn khác để không thể định lỗi, đổ tội cho kỹ nghệ khiêu dâm được.
Có nhiều mẩu hài hước về chuyện phụ nữ không muốn sex và đàn ông thì ham hố ra sao. Tiếp theo, lại tòi ra kiểu cười cợt trái ngược rằng, phụ nữ rất muốn nó song đàn ông lại chỉ mong cho chuyện ấy thật sớm kết thúc.
Đàn ông trở nên lơ là với bạn gái hoặc bà vợ gắn bó lâu nay. Giọng điệu nghe hài vãi: "Tôi thích thủ dâm hơn, vì tôi không đủ sức làm tình."
Đàn ông luôn sẵn sàng chung đụng với các thể loại phụ nữ trẻ trung, mới mẻ; nhưng rồi, theo thời gian, chuyện ấy cùng bồ bịch xảy ra thế nào?
Cứ thói tục thường thấy thì nó sẽ suy giảm tí chút, song điều khác biệt đáng quan sát: đây là sự lơ là của đàn ông, "kiệt sức", thiếu vắng động cơ thắt chặt mối quan hệ sống động với bạn tình (người yêu/ vợ). Ví von trần trụi: dương vật có thể bung to-- tiếc thay, mọi thứ là đồ bỏ đi.
Hãy thử đối diện: có thể kỹ nghệ khiêu dâm khiến phụ nữ cảm thấy bất xứng, song chị em liệu thoải mái, đủ đầy thế nào đây khi mà bạn trai, ông chồng của họ thích xem TV hơn là lên giường? "Mà anh đang mệt lắm."
Vậy, rõ ràng có 2 phần của vấn đề cần nhấn mạnh.
Phần dễ thấy, chưa lớn lắm là việc truyền thông hoặc kỹ nghệ khiêu dâm đối tượng hóa phụ nữ, và tác động của nó tới cả đàn ông lẫn phụ nữ.
Phần thứ hai, chính yếu hơn nhiều, là sự "bất lực" (mang nghĩa ẩn dụ) và vô cảm của đàn ông. Một lần nữa lưu ý: kỹ nghệ khiêu dâm có thể đã phóng đại, thổi bùng tác động này, song nó không phải là nguyên nhân.
Thậm chí, phải nói thêm rằng, việc đối tượng hóa (và chủ thể hóa) phụ nữ tác động mạnh mẽ đến tinh thần đàn ông hơn-- so với tinh thần phụ nữ; hậu quả, tạo nên hàng loạt nỗi đau tâm lý để rồi sẽ tràn ra thành hành vi bạo lực và lạm dụng.
Thật bực bội khi hình dung kịch bản: ông bố gằm ghè, đe dọa cô con gái với những câu chuyện hiếp dâm kinh hoàng, đòi hỏi cô trở thành "nữ chiến binh Amazon" đầy nam tính, song chính ông lại khuyến khích cậu con trai xem film sex và tìm hiểu các thứ tương tự.
Không còn gì đáng nghi ngờ nữa, kỹ nghệ khiêu dâm là hiện tượng xã hội, khởi đầu tiến trình tàn phá hoàn toàn tinh thần phụ nữ và sẽ thúc đẩy tình hình trầm trọng hơn nhờ tiến bộ công nghệ, như sự phơi bày thật bi thảm trên internet chứng thực.
Bất luận thế nào, việc hạ thấp, nhục mạ giá trị của ai đó hoặc khiến giảm thiểu quyền năng, mức độ kiểm soát cuộc đời mình đều sẽ để lại hiệu ứng tiêu cực thật nặng nề đối với tinh thần người ta.
Kỹ nghệ khiêu dâm góp phần mài mòn sự tín nhiệm của đàn ông đối với phụ nữ.
Đàn ông bị xã hội thúc đẩy làm người chiến thắng, song thực tế chỉ có ít người chúng ta có thể là người chiến thắng, hoặc thỏa mãn hình mẫu người chiến thắng của xã hội.
Do đó, sự tự trọng của đấng nam nhi phải hứng lấy trách nhiệm trả giá; cánh đàn ông đành lẩn tránh, ẩn nấp vào những thứ khác chẳng đáng tin cậy hay chẳng hề vững bền gì như máy tính, chia sẻ thời gian với đám bạn nhậu, xe ô tô,... và đủ điều mà cô gái cặp đôi có thể đòi hỏi.
Rồi cạnh tranh công việc, kết hôn, nuôi dạy con cái, đứng mũi chịu sào làm trụ cột neo giữ mái ấm gia đình...
Kỹ nghệ khiêu dâm thì nhanh gọn, dễ dàng; sự lựa chọn khác lại phức tạp, bất trắc, yêu cầu phải có thời gian, đòi hỏi sức lực và tuyệt đối không đảm bảo thành công lâu dài.
Ngẫm nghĩ, suy xét ý kiến: đàn ông không được thấu hiểu, hỗ trợ, quan tâm mọi nơi, mọi lúc; họ tiêu tốn thời gian vô kể vào máy tính, videogames, công việc,...
Logic buộc phải thừa nhận căn nguyên nằm ở cảm giác bất toàn, thiếu tương xứng của chính đàn ông?
Kỹ nghệ khiêu dâm là triệu chứng phụ, chứ nó ít khi chạm tới được nền tảng của vấn đề.
Và đàn ông mang cái nhìn sai lệch về chuyện thế nào là được yêu thương.
Họ muốn được yêu không phải như họ vốn thế, mà như ai đó nghĩ họ là gì. Những gì họ muốn bạn gái mình nói: "Em yêu anh vì anh thông minh đến nhường này, vì anh rành rẽ chuyện chính trị." Những gì họ không muốn bạn gái thổ lộ: "Em yêu anh vì anh tốt với em."
Lỗi không phải tại kỹ nghệ khiêu dâm; sex không có tội.
Đàn ông đang ngày càng ít quan tâm đến việc thiết lập những mối quan hệ ý nghĩa với tha nhân như một *mục tiêu tối thượng*; thay vào đó, họ ưu tiên *đầu tư* vào các định dạng, bản sắc của chính bản thân mình.
Sẽ không thừa, khi lưu ý bạn đọc rằng, bài viết này tịnh chẳng hề nhắm tới toàn thể đàn ông mà hơi nghiêng sang những người tự mê mình thái quá (narcissist).
Lời cuối. Chưa điều tra được, song biết đâu chừng, với đối tượng rối loạn nhân cách vừa nêu thì ngay cả sex (giao hợp) cũng chỉ là một sự "thẩm du" mà thôi.
Vâng, thật đáng ngạc nhiên về sự phức tạp của vô vàn động cơ liên quan đến việc làm tình (have sex/ intercourse); ấn tượng, kỳ cục và thú vị thay, nghiên cứu vừa công bố phát hiện nhiều điều vượt xa hẳn một số ý nghĩ bấy lâu rằng, người ta mây mưa chỉ để hưởng thụ khoái lạc dục tình hay nhăm nhăm sinh con đẻ cái.
Theo đó, hai nhà nghiên cứu tâm lý là David Buss và Cindy Meston (Đại học Texas, Hoa Kỳ) đã phân thành 4 mục chính và 13 tiểu mục sau khi tìm ra 237 lý do (từ đối tượng 400 sinh viên và tình nguyện viên) khiến người ta làm tình:
@ Các lý do thể chất
- Giảm thiểu căng thẳng (stress): " Làm tình có vẻ là một bài tập thể dục tốt."
- Tò mò: "Các bạn bè tôi làm rồi và tôi muốn thích ứng với. Tôi muốn thử một số kỹ thuật và vị trí làm tình mới."
- Hấp dẫn tình dục: "Tôi muốn thưởng thức sự bùng nổ."
- Khoái lạc: "Tôi muốn trải qua sự rung động thể xác."
@ Các lý do xúc cảm
- Yêu đương: "Tôi muốn cảm thấy sự nối kết."
- Bày tỏ nỗi lòng: "Tôi muốn nói: 'Tạm biệt'."
@ Các lý do động cơ (dựa trên mục tiêu)
- Sinh nở: "Tôi muốn có em bé."
- Trạng thái xã hội: "Tôi muốn được thừa nhận là tôi cũng có thể đưa ai đó lên giường. Tôi muốn cảm thấy mình nữ tính."
- Trả thù: "Tôi muốn ai đấy phải bị nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục."
@ Các lý do xuất phát từ sự bất an
- Niềm tin vào bản thân: "Tôi muốn cảm thấy mình già dặn hơn. Tôi muốn người yêu lưu tâm đến mình."
- Áp lực: "Người yêu tôi đề nghị tôi làm tình. Tôi muốn anh ấy/ cô ấy đừng quấy rầy mình về chuyện ấy nữa. Tôi là kẻ nghiện sex."
- Dự phòng: "Tôi muốn người yêu của mình giảm ham muốn quan hệ với đối tượng khác. Tôi muốn giữ người yêu khỏi đi lăng nhăng."
@ Các lý do khác
- Tâm linh: "Tôi muốn cảm thấy mình gần gũi hơn với Thượng đế."
- Vị tha: "Tôi muốn người yêu mình cảm thấy ổn thoả với bản thân anh ấy/ cô ấy."
- Đe doạ: "Tôi muốn chia tay."
- Gây ấn tượng với tha nhân: "Tôi muốn ba hoa khoác lác với người khác về những trải nghiệm tình dục của mình."
- Thao tác tâm lý: "Tôi muốn mình có việc làm, lên lương, thăng chức, làm ra tiền."
- Tự hạ thấp mình: "Tôi muốn trừng phạt bản thân."
Nếu muốn tìm hiểu kỹ hơn, tải về ở đây bản PDF danh sách đầy đủ các lý do khiến người ta làm tình; đọc nó, bạn cũng sẽ biết 50 lý do hàng đầu khiến phụ nữ cũng như đàn ông ân ái với nhau.
Chẳng hạn, chị em nêu ra 20 lý do chủ yếu sau:
1. Tôi bị người ấy hấp dẫn.
2. Tôi muốn trải nghiệm sự khoái lạc thể xác.
3. Chuyện ấy đem lại cảm giác thú vị.
4. Tôi muốn thể hiện tình cảm của mình với đối tượng.
5. Tôi muốn biểu lộ tình yêu với người ấy.
6. Tôi lên cơn phấn khích và muốn được xả bỏ.
7. Tôi bị "kích dục".
8. Làm tình thật buồn cười.
9. Tôi nhận ra mình đang yêu.
10. Tôi "rạo rực trong từng khoảnh khắc."
11. Tôi muốn người yêu mình hài lòng.
12. Tôi khao khát gần gũi về mặt cảm xúc (ví dụ, sự thân mật).
13. Tôi muốn hưởng thụ khoái lạc thuần tuý.
14. Tôi muốn lên tới đỉnh Vu sơn (orgasm).
15. Làm tình thật thích thú, phiêu lưu.
16. Tôi muốn cảm thấy gắn bó với người ấy.
17. Sự hấp dẫn hình thể lôi cuốn tôi.
18. Bối cảnh thật lãng mạn.
19. Người ấy thực sự ham muốn tôi.
20. Người ấy làm tôi cảm thấy mình khêu gợi.
... Rõ ràng, động cơ tình dục pha trộn trong nó cả bản năng nguyên thuỷ lẫn các khuynh hướng tập nhiễm khác nhau.
Dù không phải là nhu cầu sinh học mang ý nghĩa quyết định sự sống còn, song thực tế chứng tỏ sex thể hiện năng lực thôi thúc mãnh liệt nhất có tác động sâu xa, đúng đắn đến sự trưởng thành, thích nghi và sung mãn của mỗi cá thể.
Hơn thế nữa, thoả nguyện nhu cầu sex và thực hiện hành vi tình dục bình thường giữ vai trò hầu như chủ yếu cho một đời sống gia đình hạnh phúc và duy trì diễn tiến nhân loại nói chung.
Sát sườn hàng ngày, tại Việt Nam bây giờ bạn dễ dàng tìm thấy đủ kiểu tâm sự bộn bề, ngang trái.
Đến đây, chợt nhớ lời chàng Thúc Sinh nhắn nhủ với nàng Kiều trước cơn ghen "đàn bà dễ có mấy tay" của cô vợ Hoạn Thư: "Ái ân ta có ngần này mà thôi..."
Suy tư tới lui thì phải công nhận chuyện xếch xiếc, ấy ấy nọ kia dường như quyến rũ và ngộ nghĩnh ghê nhỉ!
Đó là một trong những con số tính đếm mà phần mềm Bravenet vô tư thực hiện về lượng người truy cập blog Cái Tôi.
Bữa mô tê xa lắc xa lơ còn mới ti toe mở màn, ô a với sự tròn trĩnh 1000, băn khoăn "blog hay không blog" để rồi chợt thấy chạm mốc thôi nôi...
Và hôm nay thì vừa chẵn 2 năm mò mẫm loanh quanh, va vấp, tìm ra hướng đi và thẳng tiến.
010012. Nào phải dịp đặt bày đặc biệt; lắm lúc số má chỉ thuần túy là số má không hơn không kém.
[Theo tác giả sách, tương tự nhiều loài động vật khác, chúng ta có một "cảm nhận số má" được cài tự động trong não. Việc so sánh định lượng bị cản trở ở nhiều loài, và chính năng lực này là sự thích nghi mang tính tiến hoá nhằm tránh bị cưỡng đoạt, giúp đối tượng kiếm tìm thức ăn và lựa chọn bạn tình tốt nhất. Cấu trúc của con người vốn mong muốn một thứ bậc cao hơn và tính toán chính xác hơn. Toán học của chúng ta tiến hoá là nhờ bộ não và vì bộ não của chúng ta.]
Vậy đấy, giờ thì tôi đang gõ những dòng chữ này trên một máy tính cấu hình khá ổn nối mạng; tạm thời khỏi phải sử dụng cái cũ bấy lâu- ổ cứng cứ tưng tưng nên vội vội vàng vàng chép sang USB rồi thao tác nhanh nhanh, tiết kiệm tiền, kịp đăng bài trước khi hàng Net công cộng đóng cửa.
Truy cập blogger.com chẳng thấy bị chặn tường lửa nữa, song tiềm tàng lắm nguy cơ hư hư thực thực giữa môi trường sống vô nguyên tắc, đa diện, bất ổn và phi lý. Hiện tôi đang ngẫm nghĩ về mô hình trực quan của động cơ blog và hạnh phúc đời thường mỗi ngày- dựa theo nghiên cứu của nhà tâm lý học Edward Deci- là vùng giao thoa trong sự cảm nhận các yếu tố cạnh tranh, tự trị và liên kết.
466 entry; yên ả ngồi đây sau những phiền muộn, thất lạc, lãng quên, gặt hái, bận rộn, tự chỉ trích và lo lắng tận đẩu tận đâu...
Điều rõ ràng nhất nổi bật lên giữa buổi chiều hè nắng nóng là vẻ mãn nguyện lấp lánh, từ mối gắn bó sâu xa của sự tích luỹ kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp với hoạt động duy trì blog; tình thực, tôi tự nguyện chấp nhận hy sinh và trả giá ít nhiều với mục tiêu tăng cường sức khoẻ cho blog Cái Tôi- "thế giới tâm lý học và lòng người."
Có lúc hăng say, có khi mệt mỏi; mải mê với sự vụ bản thân và gắng gỏi đáp ứng mong đợi của bạn đọc. Cộng đồng trách nhiệm, sẻ chia tâm tình, một mình biệt lập. Dẫu đều đặn hay thảng hoặc đôi bài, chừng ấy thời gian đủ chứng thực rằng tôi đã nỗ lực theo đuổi không ngừng cùng cái blog học mà chơi, chơi mà học này.
Bạn bè thủy chung ủng hộ; các mối quen biết bén duyên hạnh ngộ; phát hiện ngẫu hứng ngập đầy thú vị; bản thân nội quan nghiêm cẩn.
Tình hình chẳng còn giống trước, bài vở chểnh mảng và không cập nhật đúng hạn. Diễn biến, đổi thay của cá nhân và thế giới ùa vào khiến tôi cần làm mới lại cam kết để nâng cao hơn chất lượng học thuật, chuyên môn; trình bày thoáng mở, thú vị mà không chói loá; phong phú đề tài, tránh cả dung tục lẫn cao siêu,...
"Que sera sera"... Biết ra sao ngày sau, ai hay tương lai sẽ như thế nào; vì thế, tôi quyết không tốn thời gian vô ích cho việc lập kế hoạch.
Duy nhất điều chắc chắn: blog- trong vô vàn trách nhiệm, công việc và tương tác qua lại giữa các lĩnh vực, khía cạnh khác nhau của kiếp nhân sinh (vật chất, trí tuệ, xã hội và tâm linh)- sẽ dần dần chiếm giữ một phần quan trọng và to lớn trong quãng đời còn lại của tôi.
Sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng ở Việt Nam, thường thì ngay từ năm thứ nhất đã được nghe nhắc đến động cơ, trong chương bàn về Nhân cách thuộc giáo trình Tâm lý học Đại cương.
Sách viết rằng, vấn đề động cơ là vấn đề trung tâm trong cấu trúc của nhân cách; và cho biết, các nhà tâm lý học tư sản giải thích nguồn gốc của động cơ chủ yếu trên bình diện sinh vật, coi bản năng là nguồn năng lượng, động lực chủ yếu thúc đẩy con người hoạt động.
Đại diện duy nhất cho quan điểm về động cơ của các nhà tâm lý học Soviet được trích dẫn là X.L. Rubinstein:
"Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi con người bởi thế giới. Sự quy định này được thực hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh động cơ đó."
Theo tác giả cuốn Giáo trình này, có nhiều cách phân loại động cơ: động cơ ham thích và động cơ nghĩa vụ; động cơ quá trình và động cơ kết quả; động cơ gần và động cơ xa; động cơ cá nhân, động cơ xã hội, động cơ công việc,...
Ý cuối cùng trong phần trình bày được dành để chỉ ra các thành phần (là các xu hướng nhân cách: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin) trong hệ thống động cơ nhân cách có quan hệ chi phối lẫn nhau theo những thứ bậc, trong đó có những thành phần giữ vai trò chủ đạo, có thành phần giữ vai trò thứ yếu tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể của hoạt động. (Nguyễn Quang Uẩn, 2005, Hà Nội: Nxb. Đại học Sư phạm, tr.112- tr.113).
Trên đây là toàn bộ nội dung trong giáo trình Tâm lý học dành cho sinh viên nước nhà viết về động cơ, một trong những vấn đề cực kỳ lý thú và cũng là lĩnh vực phức tạp nhất của tâm lý học.
Trong việc truy tìm, tra vấn cái gì tạo nên bản chất người, động cơ là chìa khoá dẫn đến một số câu hỏi vô cùng sâu sắc về sự tồn tại của chúng ta; đồng thời, nó cũng bộc lộ khoảng tối trong tâm hồn chúng ta.
Nhân tiện, nếu bạn muốn theo dõi kết quả nghiên cứu về động cơ (Motivation) thì gần đây có một nghiên cứu đăng trên tạp chí Tâm lý học Lâm sàng Anh quốc (The British Journal of Clinical Psychology).
Theo đó, các tác giả đã tích hợp hai lý thuyết Tự quyết định (Self-Determination Theory- SDT) và Phỏng vấn động cơ (Motivational Interviewing- MI).
Giả thuyết cơ bản của công trình nghiên cứu là lý thuyết các yếu tố nhân văn cần thiết (essentially humanistic theories) cho rằng con người ta có sẵn tiềm năng cho sự đổi thay tích cực bên trong chính mình.
Nói cách khác, từ góc độ ứng dụng, nó thừa nhận người ta sẽ lựa chọn các mục tiêu (goals) và hành vi (behaviours) tốt lành (good) đối với họ.
Mục tiêu, dễ suy đoán là xuất phát từ nhu cầu (needs). SDT định hình 3 nhu cầu chính mà con người hay tìm kiếm: năng lực (competence), tự trị (autonomy) và liên kết (relatedness).
Ba nhu cầu vừa nêu đều tốt lành, tích cực, nhân văn.
Và dù STD không cố ép thế giới động cơ chỉ hướng đến 3 nhu cầu trên, song không khó thấy là trong lý thuyết STD, 3 nhu cầu trên đóng vai trò quan trọng nhất. Vậy, liệu chúng có bao quát được mọi thứ? Rồi làm thế nào để thực hiện MI đây?
Xem ra, có vẻ tình hình vẫn lửng lơ con cá vàng: động cơ của chúng ta là gì?
Phân loại: Động cơ, Nghiên cứu
Gần 3 năm trước, lúc mới biết di chuột và đọc những trang web đầu tiên, tôi thực sự thích thú khi phát hiện ra bài báo Studies Find Reward Often No Motivator từ đường link nêu trong một số của tạp chí Tin học. Theo đó,
Năng lực sáng tạo và hứng thú nội tâm/ creativity and intrinsic interest sẽ giảm sút nếu công việc được hoàn thành vì mục tiêu lợi lộc; rằng, những phần thưởng/ rewards (ví dụ: tiền bạc, giải thưởng, hoặc giành chiến thắng trong cuộc thi,...) có thể khiến cho các mức độ hoàn thành nhiệm vụ hạ xuống, khi thực hiện kém thú vị hẳn đi.Và như thế, nhiều thực nghiệm của các nhà tâm lý học tán đồng với khái niệm động cơ bên trong/ intrinsic motivation.
Những phát hiện của họ đặt lại vấn đề về niềm tin phổ quát cho rằng tiền bạc là một cách thức hiệu quả và thậm chí, cần thiết để thúc đẩy người ta hành động.
Chẳng hạn, trợ lý giáo sư tâm lý học Theresa Amabile của trường Đại học Brandeis, nói là nghiên cứu của bà "bác bỏ hoàn toàn luận điểm: sáng tạo có thể điều kiện hóa thao tác/ operantly conditioned."
Vào năm 1985, Amabile đề nghị 72 người viết sáng tạo tại Đại học Brandeis và đại học Boston làm thơ. Một số sinh viên được đưa cho danh sách viết lách vì các lý do bên ngoài (áp lực của giáo viên, kiếm tiền và làm để tốt nghiệp ra trường) và yêu cầu họ suy nghĩ về việc viết lách liên quan đến các lý do này; số sinh viên khác là danh sách các lý do bên trong (thích thú khi tung hứng ngôn ngữ, thoả mãn vì được tự diễn đạt bản ngã,..); nhóm thứ ba thì không nhận bất cứ danh sách nào. Và tất cả sinh viên được yêu cầu viết thật nhiều.
Kết quả thực nghiệm thật rõ ràng: những sinh viên nhận lý do bên ngoài không chỉ viết kém sáng tạo so với những sinh viên khác, theo đánh giá của 12 nhà thơ độc lập, mà chất lượng tác phẩm của họ còn sút kém rất ý nghĩa.
Phản ứng của Kenneth McGraw, trường Đại học Mississippi, cho rằng "các nguyên tắc cơ bản của việc củng cố và khen thưởng chắc chắn tác dụng, có điều trong một bối cảnh hạn chế/ restricted context"; "tính chất hạn chế" ở đây hàm nghĩa là người ta tiến hành công việc mà không cần đặc biệt thích thú lắm.
Dưới đây là một vài lý giải chủ yếu của nhóm ủng hộ động cơ bên trong:
1. Các giải thưởng khuyến khích người ta thu hẹp lại mục tiêu, để làm nó càng nhanh càng tốt và gặp ít nguy cơ. Amabile khẳng định: "Nếu họ cảm thấy đây là điều tôi phải hoàn thành để giành giải thưởng, họ sẽ ít sáng tạo hơn."
2. Mọi người dần nhận ra là họ bị kiểm soát, thẩm định bởi giải thưởng. Họ cảm thấy ít tự trị, và chính điều này ngăn cản việc tiến hành. "Càng trải nghiệm nhiều về sự tự định đoạt/ self-determined bị hạn chế, sự sáng tạo càng bị sa sút", Richard Ryan- trường Đại học Roschester.
3. Các phần thưởng bên ngoài/ extrinsic rewards có thể ăn mòn sự hứng thú nội tâm. Người nào nghĩ mình đang làm việc vì tiền, thì kém phấn khích về nỗi niềm khao khát chiến thắng và bằng lòng với thành tựu tìm thấy trong công việc của chính họ, và do đó, họ cũng không làm vì chúng nữa. Giải thích cuối cùng này của Edward Deci, cố vấn của Ryan, người từng tuyên bố vào năm 1971 rằng "tiền bạc có thể làm tốt việc đấm mõm động cơ bên trong của một hành động."
Richard Ryan còn thấy rằng, khi mà phản hồi bằng lời nói được kinh nghiệm như là cách thẩm định, thì tác động đến động cơ tương tự như trả tiền công. Trong nghiên cứu của Ryan về công nhân xí nghiệp, nếu ai đó được bảo: "Tốt lắm, anh đang làm như anh nên như thế" thì đã có "một sự hạ thấp đầy ý nghĩa động cơ bên trong so với những người nhận được phản hồi bằng thông tin thuần tuý."
Và Ryan nêu ví dụ về sự khác biệt giữa việc nói: "Tôi trao cho anh phần thưởng này vì tôi nhận ra giá trị công việc của anh." và phát ngôn: "Anh nhận được phần thưởng này vì anh hướng theo các tiêu chuẩn của tôi."
Câu chuyện về động cơ bên trong, về mối liên quan giữa giải thưởng và sự thực hiện công việc tưởng chừng thế là ổn thoả. Nào ngờ, mới đây, tôi biết thêm một quan điểm trái ngược phủ nhận sự tồn tại ngay cái gọi là động cơ bên trong Intrinsic Motivation doesn't Exist, Researcher Says của giáo sư tâm lý học Steve Reiss, trường đại học tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ.
Các nhà tâm lý học cho rằng, động cơ nội tâm/ intrinsic motivations là những động cơ hình thành từ bên trong- làm điều gì đó vì bạn muốn thế, trong khi động cơ bên ngoài/ extrinsic motivations mang nghĩa là người ta đang đi tìm kiếm phần thưởng (tiền bạc, điểm tốt trong lớp học, hay một chiếc cúp thể thao,...)
GS Reiss đề nghị không nên có sự phân nhóm các động cơ đa dạng của con người thành động cơ bên trong và động cơ bên ngoài. Ông bất đồng ý kiến nêu trên:
Không có lý do nào để tiền bạc không thể là cái tạo động cơ hiệu quả, hoặc điểm số không tạo động lực cho sinh viên phấn đấu học tập. Rốt cục đó là chuyện khác biệt giữa mọi người; các cá nhân khác nhau biểu hiện động cơ theo những cách thức khác nhau.Reiss phát triển và tiến hành thử nghiệm lý thuyết về động cơ định hình với 16 ước muốn cơ bản hướng dẫn gần như mọi hành vi có ý nghĩa ở con người, bao gồm: quyền lực, tính độc lập, sự tò mò và khả năng chấp nhận.
Theo Reiss, bất kể bạn đồng ý hay không với 16 ước muốn này, thì cũng sẽ không có bất cứ cách gì để giảm thiểu toàn bộ chúng vào hai kiểu loại động cơ bên trong và bên ngoài;hơn nữa, một khi cố gắn kết tất cả động cơ vào 2 dạng, thì những ai ủng hộ động cơ bên trong cũng đang định giá trị bởi việc tuyên bố một số kiểu dạng động cơ này thì tốt hơn số kia.
Ông ví dụ, một số người cho rằng sự thịnh vượng và chủ nghĩa vật chất dẫn đến việc hạ thấp chất lượng hạnh phúc, song chẳng có cơ sở thực sự nào về điều đó cả. Điều khiến người ta hạnh phúc rất khác xa nhau- trong khi một vài cạnh tranh, giành chiến thắng và giàu có là các cội nguồn to lớn nhất của hạnh phúc; thì đối với kẻ khác, càng cảm nhận tính cạnh tranh hoặc việc xã hội hoá/ socicalizing có thể là càng thoả mãn hơn. Vấn đề ở chỗ bạn không thể bảo rằng, một số động cơ, như tiền chẳng hạn, cố hữu thuộc bậc dưới, kém chất lượng.
Một trong những cách định nghĩa động cơ bên trong liên quan đến phương tiện và cứu cánh/ means and ends, kiểu nói rằng động cơ bên trong là làm điều bạn muốn, trong khi động cơ bên ngoài thì làm điều gì đó để đạt được điều khác. Chẳng hạn, một số người bảo là trẻ em chơi bóng chày là động cơ bên trong do bởi niềm vui thú của việc chơi đùa, trong lúc một cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp mang động cơ bên ngoài vì tiền và các danh hiệu vô địch.
Nhưng theo giáo sư Reiss, một đứa trẻ chơi bóng chày có thể được thoả mãn nhu cầu luyện tập cơ thể của nó, trong khi cầu thủ chuyên nghiệp thì thoả mãn đủ đầy cho bố mẹ anh ta nhờ đem lại khoảng thu nhập cao cho gia đình. Với trẻ em và cầu thủ chuyên nghiệp, bóng chày là phương tiện hướng đến hai cứu cánh khác biệt...
... Xem ra, đúng như sách vở kinh viện đã gợi ý, động cơ luôn là một lĩnh vực nghiên cứu cực kỳ lý thú, khó khăn và phức tạp.
Nhân tiện, tôi cũng muốn trích dẫn một bài viết trong nước đăng trên tạp chí Tâm lý học mà tôi đã sao chụp vào tháng 5 năm 2003 Cấu trúc động cơ của con người của Tiến sĩ Lê Hương, Viện Tâm lý học Việt Nam.
Theo tác giả, trong cấu trúc động cơ của con người ít nhất có thể có hai thành phần, hai khía cạnh khác nhau: khía cạnh nội dung và khía cạnh lực.
Khía cạnh nội dung phản ánh nội dung của cái mà con người muốn vươn tới, muốn đạt đuợc; nội dung này vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể ,tuỳ thuộc vào các điều kiện khách quan nơi con người đang sống hay đang thực hiện hành động.
Khía cạnh lực của động cơ phản ánh độ mạnh của động cơ, thể hiện ở chỗ: một động cơ nhất định có khả năng thúc đẩy chủ thể thực hiện những hoạt động khác nhau nhằm thoả mãn động cơ đó hay không?...
Bài viết này dựa trên luận điểm của Axeev V. G. về mối quan hệ biện chứng khăng khít giữa khía cạnh nội dung và khía cạnh lực của động cơ.
Sau gần trọn 5 trang giấy in khổ A4, từ hai cấu thành nêu trên của động cơ, tác giả biểu diễn quá trình hình thành động cơ của con người như sau:
Hoạt động- giao tiếp- nhận thức- nội dung động cơ với lực tiềm năng -----> Hoạt động-giao tiếp- tiếp nhận giá trị + các trải nghiệm xúc cảm liên quan tới giá trị của nội dung động cơ đối với nhân cách -----> Nội dung động cơ với lực thúc đẩy có hiệu lực- hoạt động- giao tiếp.
Phân loại: Động cơ, Nghiên cứu
